Khóa học luyện dịch tiếng Trung ứng dụng Bài tập 10

Trang web thi thử HSK online miễn phí - Bộ đề thi thử HSK online mới nhất - Bài tập luyện dịch tiếng Trung ứng dụng thực tế

0
376
Khóa học luyện dịch tiếng Trung ứng dụng Bài tập 10 - Website thi thử HSK online miễn phí - Tài liệu thi thử HSK online uy tín - Bộ đề thi thử HSK online Thầy Vũ ChineMaster
Khóa học luyện dịch tiếng Trung ứng dụng Bài tập 10 - Website thi thử HSK online miễn phí - Tài liệu thi thử HSK online uy tín - Bộ đề thi thử HSK online Thầy Vũ ChineMaster

Bài tập luyện dịch tiếng Trung HSK ứng dụng thực tế

Khóa học luyện dịch tiếng Trung ứng dụng Bài tập 10 là một trong những bài giảng Thầy Vũ dạy học trực tuyến các lớp luyện thi HSK online miễn phí từ HSK cấp 1 đến HSK cấp 6 trên website hoctiengtrung.tv là chuyên trang chia sẻ tài liệu luyện thi chứng chỉ tiếng Trung HSK uy tín của Trung tâm chuyên luyện thi HSK online uy tín – chất lượng – miễn phí được Cộng đồng Dân tiếng Trung HSK tin tưởng và đánh giá rất cao bởi chất lượng nội dung bài giảng đầy sự tâm huyết của Thầy Vũ. Các bạn hãy chia sẻ kênh đào tạo tiếng Trung HSK online miễn phí này tới nhiều người khác vào học cùng chúng ta nhé.

Các bạn cần ôn tập lại nội dung kiến thức của bài học hôm qua tại link bên dưới.

Khóa học luyện dịch tiếng Trung ứng dụng Bài tập 9

Hôm nay chúng ta tiếp tục luyện tập kỹ năng đọc hiểu tiếng Trung HSK 5 và HSK 6 thông qua bài tập luyện dịch tiếng Trung ứng dụng được lấy từ những ví dụ thực tế trong đời sống hàng ngày xung quanh chúng ta. Các bạn muốn nâng cao trình độ tiếng Trung thì cần phải rèn luyện kỹ năng đọc hiểu tiếng Trung mỗi ngày nhé.

Mỗi lần các bạn luyện tập xong các bài tập luyện dịch tiếng Trung ứng dụng trên trang web này thì các bạn cần kết hợp làm thêm các bộ đề thi thử HSK online trên website thi thử HSK online miễn phí của Thầy Vũ nhé. Như vậy thì các bạn mới tiến bộ nhanh được. Để có thể làm online miễn phí toàn bộ các đề thi thử HSK online thì các bạn cần đăng ký một tài khoản thi HSK online. Cách đăng ký tài khoản luyện thi HSK online như thế nào?

Hướng dẫn đăng ký tài khoản thi thử HSK online miễn phí

Sau khi các bạn tạo xong tài khoản thi thử HSK online là có thể làm tha hồ vô tận các bài tập ôn thi HSK online miễn phí trên website luyenthihsk.com nhé.

Ngoài ra, các bạn cần chú ý học từ vựng tiếng Trung HSK mỗi ngày, cần nhanh chóng bổ sung cho đủ số lượng từ vựng HSK cần thiết. Ví dụ, bạn cần lấy chứng chỉ tiếng Trung HSK 6 thì cần phải nắm vững hơn 5000 từ vựng tiếng Trung cơ bản. Đó là phạm vi từ vựng tiếng Trung HSK tối thiểu yêu cầu đưa ra. Để có thể học hết tưng đó từ vựng tiếng Trung HSK thì chúng ta cần có một công cụ hỗ trợ riêng, đó chính là bộ gõ tiếng Trung Sogou Pinyin. Các bạn cần luyện tập gõ tiếng Trung trên máy tính mỗi ngày theo bộ video bài giảng của Thầy Vũ trên diễn đàn học tiếng Trung HSK online nhé. Các bạn tìm trong chuyên mục lớp tiếng Trung Thương mại online để gõ tiếng Trung online cùng Thầy Vũ theo giáo trình tiếng Trung thương mại nâng cao. Link download bộ gõ tiếng Trung sogou pinyin phiên bản mới nhất các bạn tải xuống ngay tại link bên dưới.

Tải bộ gõ tiếng Trung sogou pinyin mới nhất về máy tính

Sau khi các bạn download bộ gõ tiếng Trung sogou pinyin về máy tính xong thì cài đặt và luyện tập gõ tiếng Trung online luôn nhé. Các bạn cần kiên trì luyện tập mỗi ngày thì sẽ tiến bộ rất nhanh.

Giáo trình Khóa học luyện dịch tiếng Trung ứng dụng Bài tập 10

Sau đây chúng ta sẽ bắt đầu vào nội dung chính của bài học hôm nay ngày 24 tháng 1 năm 2021 – Khóa học luyện dịch tiếng Trung ứng dụng Bài tập 10.

Tài liệu học tiếng Trung HSK online bài 10

更好的基础设施是吸收可再生能源生产激增的方式

专家说,将可再生能源存储在电池中,并抽水蓄能以发电,并提高输电能力,这是越南培育可再生能源的关键。

国家负荷调度中心主任阮德宁(Nguyen Duc Ninh)在本月早些时候表示,由于缺乏输电能力,越南计划今年将其可再生能源产量减少13亿千瓦时。

到去年年底,太阳能装机容量达到19,400 MWp,占总发电量的25%。

世界资源研究所(WRI)的可持续能源专家Hang Dao博士表示,越南拥有太阳能盈余的原因是该国的电网和基础设施非常薄弱,因此能源无法传输到需要的地方。

杭说,国家电网已经过时,需要升级,但是安装现代网络将花费一些时间,而在等待时,国家可能会专注于短期存储计划。

她说,第一种选择是采用不同形式和规模的电池,这些电池可用于各种电动汽车,例如现在的自行车和汽车以及不久的将来的地铁。

“这项技术在全球范围内已经相当成熟,越南的任务是采用和应用它。”

澳大利亚国立大学工程与计算机科学学院电气,能源与材料工程研究学院的Andrew Blakers教授说,越南应该投资具有巨大存储容量的电池,例如用于过夜存储的电池,而不是一个小时电池,因为该国在太阳能和风能方面具有巨大潜力。

他说,但是过夜的蓄电池比一小时的蓄电池贵12-24倍。

他说,电池存储是越南的最佳选择,因此,应该决定投资电动汽车,因为电动汽车具有大电池并且可以吸收大量阳光。

他指出,在这种情况下,车主将为电池付费。

但是美国普林斯顿大学安德林格能源与环境中心的克里斯·格雷格教授表示,这种选择相对昂贵,因为存储容量为四到六小时的电池每千瓦时成本约为400美元。

格雷格建议越南采取第二种选择:在水力发电厂抽水蓄能。他说,这些工厂可以在需求低时使用可再生能源将水抽到山上和大坝上,并在高峰期释放它来发电,这种技术可以用来存储更长的时间。

“凭借其良好的水力资源,我认为越南具有很大的潜力。”

他建议,该国应成为水力发电厂以及风能和太阳能发电厂的合作伙伴。

他说,抽水蓄能取决于水力资源与太阳能发电厂的距离,越南需要足够的输电设施。

长期解决方案

杭航说,中国的输配电基础设施不足以应对可再生能源的快速增长,但这将是政府独自改善电网的财政负担。

她说,现在是时候允许私人对电力行业进行投资了,包括输电和配电。

她说,这意味着需要修改《电力法》以消除政府的垄断,这符合政治局关于到2030年国家能源发展战略方向的第55号决议。

她说,鉴于越南电力公司(EVN)难以开发基础设施,对私人发电厂建造自己的输电线路的需求已迫在眉睫。

她指出,越南的可再生能源项目不乏国际投资者。

格雷格说,如果一个国家想投资太阳能和风能发电厂,那么如果它们的所在地远离对电力有需求的地方,就必须在电网上增加投资。

他说,当一个国家的可再生能源生产快速增长时,电网的低容量是一个普遍的问题。

越南国家负荷分配中心的Ninh表示,去年可再生能源的生产激增,尤其是屋顶领域,在6月至12月之间,装机容量增长了66%,达到10,000兆瓦峰值(MWp)。

这导致了供过于求,中部的宁顺和平顺省出现了超载,迫使EVN在2020年减少了3.65亿千瓦时的太阳能购买量。

格雷格说,电力的主要需求是在大城市,如胡志明市,河内,岘港和芹T,因此越南需要在输电基础设施上进行大量投资。

他说,此外,如果它想将太阳能和风能生产扩大到相当大的水平,它不应该独立于国家系统而这样做,而应使其成为包括国家电网,现有发电机和市场运作方式在内的计划的一部分。 。

他说,它应该有一个健全的国家体系,并确保省级计划与国家计划保持一致。

越南必须为今天的现状和2050年的未来目标制定明确的计划。

他说,越南的发电量将快速增长,其原因有两个:越南经济的快速增长,导致电力需求的增长,以及用户从燃料转向汽车等电力。

“在未来的几年中,越南也许会将太阳能的数量增加一倍。然后,挑战将变得更加严重。”

至于私营部门在发展可再生能源方面的作用,他说,当一个国家放松对电力部门的管制或私有化时,总会有权衡取舍,因为私营经营者不一定为国家利益行事。

他说,但是拥有权不是重要的事情,该国的能源安全才是重要的。

巨大的潜力

布莱克斯说,越南在东南亚具有最好的太阳能和风能潜力。

他引用了最近与同事进行的一项研究,发现越南在6,000个地点具有200太瓦时的巨大的非河道抽水蓄能潜力。

他说,这大约是越南总电力需求的100倍。

他说,这些因素的结合要比其邻国拥有的要好得多,例如,他指出印尼没有风,因为它位于赤道上。

他说,东南亚其他国家也缺乏风能和抽运的山脉,而越南拥有这一切。

他说,它需要将所有这些如公用事业规模的电池,抽水蓄能和电动汽车结合起来,并提高传输能力。

他说,那将意味着不再需要新建燃煤电站和水力发电大坝。

“越南将发现获得100%可再生能源的电力比几乎任何其他国家都容易。越南可能拥有亚洲最便宜的电力。”

Phiên âm tiếng Trung Tài liệu học tiếng Trung HSK online bài 10

Gèng hǎo de jīchǔ shèshī shì xīshōu kě zàishēng néngyuán shēngchǎn jīzēng de fāngshì

zhuānjiā shuō, jiāng kě zàishēng néngyuán cúnchú zài diànchí zhōng, bìng chōushuǐ xù néng yǐ fādiàn, bìng tígāo shūdiàn nénglì, zhè shì yuènán péiyù kě zàishēng néngyuán de guānjiàn.

Guójiā fùhè diàodù zhòng xīn zhǔrèn ruǎndéníng (Nguyen Duc Ninh) zài běn yuè zǎo xiē shíhòu biǎoshì, yóuyú quēfá shūdiàn nénglì, yuènán jìhuà jīnnián jiāng qí kě zàishēng néngyuán chǎnliàng jiǎnshǎo 13 yì qiānwǎ shí.

Dào qùnián niándǐ, tàiyángnéng zhuāngjī róngliàng dádào 19,400 MWp, zhàn zǒng fādiàn liàng de 25%.

Shìjiè zīyuán yánjiū suǒ (WRI) de kě chíxù néngyuán zhuānjiā Hang Dao bóshì biǎoshì, yuènán yǒngyǒu tàiyángnéng yíngyú de yuányīn shì gāi guó de diànwǎng hé jīchǔ shèshī fēicháng bóruò, yīncǐ néngyuán wúfǎ chuánshū dào xūyào dì dìfāng.

Háng shuō, guójiā diànwǎng yǐjīng guòshí, xūyào shēngjí, dànshì ānzhuāng xiàndài wǎngluò jiāng huāfèi yīxiē shíjiān, ér zài děngdài shí, guójiā kěnéng huì zhuānzhù yú duǎnqí cúnchú jìhuà.

Tā shuō, dì yī zhǒng xuǎnzé shì cǎiyòng bùtóng xíngshì hé guīmó de diànchí, zhèxiē diànchí kěyòng yú gè zhǒng diàndòng qìchē, lìrú xiànzài de zìxíngchē hé qìchē yǐjí bùjiǔ de jiānglái dì dìtiě.

“Zhè xiàng jìshù zài quánqiú fànwéi nèi yǐjīng xiāng dàng chéngshú, yuènán de rènwù shì cǎiyòng hé yìngyòng tā.”

Àodàlìyǎ guólì dàxué gōngchéng yǔ jìsuànjī kēxué xuéyuàn diànqì, néngyuán yǔ cáiliào gōngchéng yánjiū xuéyuàn de Andrew Blakers jiàoshòu shuō, yuènán yīnggāi tóuzī jùyǒu jùdà cúnchú róngliàng de diànchí, lìrú yòng yú guòyè cúnchú de diànchí, ér bùshì yīgè xiǎoshí diànchí, yīnwèi gāi guó zài tàiyángnéng hé fēngnéng fāngmiàn jùyǒu jùdà qiánlì.

Tā shuō, dànshì guòyè de xùdiànchí bǐ yī xiǎoshí de xùdiànchí guì 12-24 bèi.

Tā shuō, diànchí cúnchú shì yuènán de zuì jiā xuǎnzé, yīncǐ, yīnggāi juédìng tóuzī diàndòng qìchē, yīnwèi diàndòng qìchē jùyǒu dà diànchí bìngqiě kěyǐ xīshōu dàliàng yángguāng.

Tā zhǐchū, zài zhè zhǒng qíngkuàng xià, chēzhǔ jiàng wèi diànchí fùfèi.

Dànshì měiguó pǔlínsīdùn dàxué ān dé lín gé néngyuán yǔ huánjìng zhōngxīn de kè lǐsī·géléi gé jiàoshòu biǎoshì, zhè zhǒng xuǎnzé xiāngduì ángguì, yīnwèi cúnchú róngliàng wèi sì dào liù xiǎoshí de diànchí měi qiānwǎ shí chéngběn yuē wèi 400 měiyuán.

Géléi gé jiànyì yuènán cǎiqǔ dì èr zhǒng xuǎnzé: Zài shuǐlì fādiàn chǎng chōushuǐ xù néng. Tā shuō, zhèxiē gōngchǎng kěyǐ zài xūqiú dī shí shǐyòng kě zàishēng néngyuán jiāng shuǐ chōu dào shānshàng hé dà bà shàng, bìng zài gāofēng qī shìfàng tā lái fādiàn, zhè zhǒng jìshù kěyǐ yòng lái cúnchú gèng zhǎng de shíjiān.

“Píngjiè qí liánghǎo de shuǐlì zīyuán, wǒ rènwéi yuènán jùyǒu hěn dà de qiánlì.”

Tā jiànyì, gāi guó yīng chéngwéi shuǐlì fādiàn chǎng yǐjí fēngnéng hé tàiyángnéng fādiàn chǎng de hézuò huǒbàn.

Tā shuō, chōushuǐ xù néng qǔjué yú shuǐlì zīyuán yǔ tàiyángnéng fādiàn chǎng de jùlí, yuènán xūyào zúgòu de shūdiàn shèshī.

Chángqí jiějué fāng’àn

háng háng shuō, zhōngguó de shū pèi diàn jīchǔ shèshī bùzú yǐ yìngduì kě zàishēng néngyuán de kuàisù zēngzhǎng, dàn zhè jiāng shì zhèngfǔ dúzì gǎishàn diànwǎng de cáizhèng fùdān.

Tā shuō, xiànzài shì shíhòu yǔnxǔ sīrén duì diànlì hángyè jìnxíng tóuzīle, bāokuò shūdiàn hé pèi diàn.

Tā shuō, zhè yìwèizhe xūyào xiūgǎi “diànlì fǎ” yǐ xiāochú zhèngfǔ de lǒngduàn, zhè fúhé zhèngzhì jú guānyú dào 2030 nián guójiā néngyuán fāzhǎn zhànlüè fāngxiàng de dì 55 hào juéyì.

Tā shuō, jiànyú yuènán diànlì gōngsī (EVN) nányǐ kāifā jīchǔ shèshī, duì sīrén fà diàn chǎng jiànzào zìjǐ de shūdiàn xiànlù de xūqiú yǐ pòzàiméijié.

Tā zhǐchū, yuènán de kě zàishēng néngyuán xiàngmù bùfá guójì tóuzī zhě.

Géléi gé shuō, rúguǒ yīgè guójiā xiǎng tóuzī tàiyángnéng hé fēngnéng fādiàn chǎng, nàme rúguǒ tāmen de suǒzàidì yuǎnlí duì diànlì yǒu xūqiú dì dìfāng, jiù bìxū zài diànwǎngshàng zēngjiā tóuzī.

Tā shuō, dāng yīgè guójiā de kě zàishēng néngyuán shēngchǎn kuàisù zēng cháng shí, diàn wǎng de dī róngliàng shì yīgè pǔbiàn de wèntí.

Yuènán guójiā fùhè fēnpèi zhōngxīn de Ninh biǎoshì, qùnián kě zàishēng néngyuán de shēngchǎn jīzēng, yóuqí shì wūdǐng lǐngyù, zài 6 yuè zhì 12 yuè zhī jiān, zhuāngjī róngliàng zēngzhǎng le 66%, dádào 10,000 zhào wǎ fēngzhí (MWp).

Zhè dǎozhìle gōngguòyúqiú, zhōngbù dì níng shùnhe píngshùn shěng chūxiànle chāozài, pòshǐ EVN zài 2020 nián jiǎnshǎole 3.65 Yì qiānwǎ shí de tàiyángnéng gòumǎi liàng.

Géléi gé shuō, diànlì de zhǔyào xūqiú shì zài dà chéngshì, rú húzhìmíng shì, hénèi, xiàn gǎng hé qín T, yīncǐ yuènán xūyào zài shūdiàn jīchǔ shèshī shàng jìnxíng dàliàng tóuzī.

Tā shuō, cǐwài, rúguǒ tā xiǎng jiāng tàiyángnéng hé fēngnéng shēngchǎn kuòdà dào xiāngdāng dà de shuǐpíng, tā bù yìng gāi dúlì yú guójiā xìtǒng ér zhèyàng zuò, ér yīng shǐ qí chéngwéi bāokuò guójiā diànwǎng, xiàn yǒu fādiàn jī hé shìchǎng yùnzuò fāngshì zài nèi de jìhuà de yībùfèn. .

Tā shuō, tā yīnggāi yǒu yīgè jiànquán de guójiā tǐxì, bìng quèbǎo shěng jí jìhuà yǔ guójiā jìhuà bǎochí yīzhì.

Yuènán bìxū wéi jīntiān de xiànzhuàng hé 2050 nián de wèilái mùbiāo zhìdìng míngquè de jìhuà.

Tā shuō, yuènán de fǎ diàn liàng jiāng kuàisù zēngzhǎng, qí yuányīn yǒu liǎng gè: Yuènán jīngjì de kuàisù zēngzhǎng, dǎozhì diànlì xūqiú de zēngzhǎng, yǐjí yònghù cóng ránliào zhuǎnxiàng qìchē děng diànlì.

“Zài wèilái de jǐ nián zhōng, yuènán yěxǔ huì jiāng tàiyángnéng de shùliàng zēngjiā yī bèi. Ránhòu, tiǎozhàn jiāng biàn dé gèngjiā yánzhòng.”

Zhìyú sīyíng bùmén zài fāzhǎn kě zàishēng néngyuán fāngmiàn de zuòyòng, tā shuō, dāng yīgè guójiā fàngsōng duì diànlì bùmén de guǎnzhì huò sīyǒu huà shí, zǒng huì yǒu quánhéng qǔshě, yīnwèi sīyíng jīngyíng zhě bù yīdìng wèi guójiā lìyì xíngshì.

Tā shuō, dànshì yǒngyǒu quán bùshì zhòngyào de shìqíng, gāi guó de néngyuán ānquán cái shì zhòngyào de.

Jùdà de qiánlì

bùláikè sī shuō, yuènán zài dōngnányà jùyǒu zuì hǎo de tàiyángnéng hé fēngnéng qiánlì.

Tā yǐnyòngle zuìjìn yǔ tóngshì jìnxíng de yī xiàng yánjiū, fāxiàn yuènán zài 6,000 gè dìdiǎn jùyǒu 200 tài wǎ shí de jùdà de fēi hédào chōushuǐ xù néng qiánlì.

Tā shuō, zhè dàyuē shì yuènán zǒng diànlì xūqiú de 100 bèi.

Tā shuō, zhèxiē yīnsù de jiéhé yāo bǐ qí lín guó yǒngyǒu de yāo hǎo dé duō, lìrú, tā zhǐchū yìnní méiyǒu fēng, yīnwèi tā wèiyú chìdào shàng.

Tā shuō, dōng nán yǎ qítā guójiā yě quēfá fēngnéng hé chōu yùn de shānmài, ér yuènán yǒngyǒu zhè yīqiè.

Tā shuō, tā xūyào jiāng suǒyǒu zhèxiē rú gōngyòng shìyè guīmó de diànchí, chōushuǐ xù néng hé diàndòng qìchē jiéhé qǐlái, bìng tígāo chuánshū nénglì.

Tā shuō, nà jiāng yìwèizhe bù zài xūyào xīnjiàn rán méi diànzhàn hé shuǐlì fādiàn dà bà.

“Yuènán jiāng fāxiàn huòdé 100%kě zàishēng néngyuán de diànlì bǐ jīhū rènhé qítā guójiā dōu róngyì. Yuènán kěnéng yǒngyǒu yàzhōu zuì piányí de diànlì.”

Bài tập luyện dịch tiếng Trung Tài liệu học tiếng Trung HSK online bài 10

Cơ sở hạ tầng tốt hơn là cách để hấp thụ sự gia tăng trong sản xuất năng lượng tái tạo

Theo các chuyên gia, tích trữ năng lượng tái tạo trong pin và tích trữ nước để sản xuất điện và nâng cao công suất truyền tải là những chìa khóa để Việt Nam thúc đẩy năng lượng tái tạo.

Ông Nguyễn Đức Ninh, Giám đốc Trung tâm Điều độ Phụ tải Quốc gia, cho biết đầu tháng này, Việt Nam có kế hoạch giảm sản lượng năng lượng tái tạo 1,3 tỷ kilowatt giờ trong năm nay do thiếu công suất truyền tải.

Công suất điện mặt trời đã lắp đặt đạt 19.400 MWp vào cuối năm ngoái, tương đương 25% tổng công suất điện.

Tiến sĩ Hằng Đào, chuyên gia năng lượng bền vững tại Viện Tài nguyên Thế giới (WRI), cho biết lý do Việt Nam dư thừa năng lượng mặt trời là do lưới điện và cơ sở hạ tầng của đất nước còn khá yếu nên năng lượng không được truyền tải đến các địa điểm cần thiết.

Theo bà Hằng, hệ thống lưới điện quốc gia đã cũ và cần được nâng cấp, nhưng sẽ mất thời gian để lắp đặt một mạng lưới hiện đại và trong thời gian chờ đợi, quốc gia có thể tập trung vào các kế hoạch lưu trữ ngắn hạn.

Lựa chọn đầu tiên là pin ở các dạng và quy mô khác nhau có thể được sử dụng cho nhiều loại phương tiện điện khác nhau như xe đạp, ô tô hiện nay và tàu điện ngầm trong tương lai gần.

“Công nghệ này đã khá trưởng thành trên toàn cầu, và nhiệm vụ của Việt Nam là tiếp nhận và áp dụng nó.”

Giáo sư Andrew Blakers thuộc Trường Nghiên cứu Kỹ thuật Điện, Năng lượng và Vật liệu, Trường Cao đẳng Kỹ thuật và Khoa học Máy tính, Đại học Quốc gia Australia, cho biết Việt Nam nên đầu tư vào các loại pin có dung lượng lưu trữ lớn, chẳng hạn như loại dùng để lưu trữ qua đêm, thay vì pin giờ, vì đất nước có tiềm năng lớn về năng lượng mặt trời và năng lượng gió.

Nhưng pin lưu trữ qua đêm đắt hơn 12-24 lần so với pin dùng một giờ, ông nói.

Lưu trữ ắc quy là lựa chọn tốt nhất cho Việt Nam, vì vậy nên quyết định đầu tư vào xe điện vì chúng có lượng ắc quy lớn và có thể chịu nhiều nắng, ông nói.

Bên cạnh đó, chủ phương tiện sẽ trả tiền cho pin trong trường hợp đó, ông chỉ ra.

Tuy nhiên, Giáo sư Chris Greig thuộc Trung tâm Năng lượng và Môi trường Andlinger, Đại học Princeton, Hoa Kỳ, cho biết lựa chọn này tương đối tốn kém vì pin có dung lượng lưu trữ 4 hoặc 6 giờ có giá khoảng 400 USD / kilowatt giờ.

Greig đề xuất một phương án thứ hai cho Việt Nam: tích trữ bơm tại các nhà máy thủy điện. Các nhà máy có thể sử dụng năng lượng tái tạo để bơm nước lên các ngọn núi và đập trong thời kỳ nhu cầu thấp và giải phóng nó trong thời kỳ cao điểm để tạo ra điện, và kỹ thuật này có thể được sử dụng để lưu trữ điện trong thời gian dài hơn, ông nói.

“Với nguồn thủy điện tốt, tôi nghĩ rằng nó có tiềm năng tốt cho Việt Nam.”

Ông đề nghị, đất nước nên tạo các nhà máy thủy điện và các nhà máy điện gió và mặt trời.

Việc tích trữ bơm phụ thuộc vào nguồn thủy điện cách các nhà máy năng lượng mặt trời đến đâu và Việt Nam cần có các phương tiện truyền tải đầy đủ, ông nói.

Các giải pháp dài hạn

Bà Hằng cho biết cơ sở hạ tầng truyền tải và phân phối của đất nước không được trang bị để đối phó với tốc độ phát triển nhanh chóng của năng lượng tái tạo, nhưng sẽ là gánh nặng tài chính cho chính phủ khi tự cải thiện lưới điện.

Bà nói đã đến lúc cho phép đầu tư tư nhân vào lĩnh vực điện, bao gồm cả truyền tải và phân phối.

Có nghĩa là Luật Điện lực cần được sửa đổi để loại bỏ sự độc quyền của Chính phủ và điều này phù hợp với Nghị quyết số 55 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đến năm 2030, bà nói.

Bà cho biết, nhu cầu các nhà máy điện tư nhân tự xây dựng đường dây truyền tải đã trở nên bức thiết do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) gặp khó khăn trong việc phát triển cơ sở hạ tầng.

Bà chỉ ra rằng không thiếu các nhà đầu tư quốc tế vào các dự án năng lượng tái tạo tại Việt Nam.

Greig cho biết nếu một quốc gia muốn đầu tư vào các nhà máy năng lượng mặt trời và gió, họ phải đầu tư nhiều hơn vào lưới điện nếu địa điểm của họ ở xa những nơi có nhu cầu về điện.

Công suất lưới điện thấp là một vấn đề phổ biến khi sản xuất điện tái tạo của một quốc gia phát triển nhanh chóng, ông nói.

Ninh từ Trung tâm Điều độ Phụ tải Quốc gia Việt Nam cho biết, sản lượng năng lượng tái tạo đã tăng đột biến trong năm ngoái, đặc biệt là ở phân khúc sân thượng, với công suất tăng 66% lên mức đỉnh 10.000 megawatt (MWp) từ tháng 6 đến tháng 12.

Điều này gây ra tình trạng dư cung, với tình trạng quá tải được ghi nhận ở các tỉnh miền Trung như Ninh Thuận và Bình Thuận, buộc EVN phải giảm mua năng lượng mặt trời 365 triệu KWh vào năm 2020.

Greig cho biết nhu cầu điện chính là ở các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng và Cần Thơ, do đó Việt Nam cần đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng truyền tải điện.

Hơn nữa, nếu muốn mở rộng sản xuất năng lượng mặt trời và gió ở mức đáng kể, họ không nên làm điều này độc lập với hệ thống quốc gia, mà hãy biến nó thành một phần của kế hoạch bao gồm lưới điện quốc gia, máy phát điện hiện có và cách thị trường vận hành, ông nói. .

Nó nên có một hệ thống quốc gia mạnh mẽ và đảm bảo rằng các quy hoạch của tỉnh nhất quán với các quy hoạch quốc gia, ông nói.

“Việt Nam phải có một kế hoạch rất rõ ràng cho vị trí của bạn ngày hôm nay và vị trí bạn muốn vào năm 2050.”

Ông cho biết sản xuất điện của Việt Nam sẽ phát triển nhanh chóng vì hai lý do: nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng, dẫn đến nhu cầu điện tăng cao và sự chuyển dịch của người dùng từ nhiên liệu sang điện, như ô tô.

“Trong vài năm tới có thể Việt Nam sẽ tăng gấp đôi lượng năng lượng mặt trời. Và khi đó những thách thức sẽ trở nên đáng kể hơn nhiều.”

Đối với vai trò của khu vực tư nhân trong việc phát triển năng lượng tái tạo, ông nói rằng luôn có sự đánh đổi khi một quốc gia bãi bỏ quy định hoặc tư nhân hóa lĩnh vực điện vì các nhà khai thác tư nhân không nhất thiết phải hành động vì lợi ích quốc gia.

Nhưng quyền sở hữu không phải là điều quan trọng, an ninh năng lượng của đất nước là, ông nói.

Tiềm năng lớn

Blakers cho biết Việt Nam có tiềm năng năng lượng mặt trời và điện gió tốt nhất Đông Nam Á.

Ông trích dẫn một nghiên cứu gần đây mà ông đã thực hiện với các đồng nghiệp cho thấy Việt Nam có tiềm năng trữ lượng khổng lồ được bơm ngoài sông lên tới 200 Terawatt giờ tại 6.000 địa điểm.

Ông nói, con số này gấp khoảng 100 lần tổng lượng điện Việt Nam cần.

Ông nói, sự kết hợp của những thứ này tốt hơn nhiều so với những gì mà các nước láng giềng của nó sở hữu, ví dụ như Indonesia không có gió vì nó nằm trên đường xích đạo.

Các nước khác ở Đông Nam Á cũng thiếu gió và núi để chứa máy bơm trong khi Việt Nam có tất cả, ông nói.

Nó cần kết hợp tất cả những thứ này như pin quy mô tiện ích, bộ lưu trữ được bơm và xe điện, đồng thời cải thiện khả năng truyền tải, ông nói.

Điều đó có nghĩa là nhu cầu về các nhà máy nhiệt điện than và đập thủy điện mới sẽ biến mất, ông nói.

“Việt Nam sẽ dễ dàng đạt được 100% điện tái tạo hơn hầu hết các quốc gia khác. Việt Nam có thể có điện rẻ nhất ở châu Á.”

Trên đây là toàn bộ nội dung bài giảng trực tuyến hôm nay Khóa học luyện dịch tiếng Trung ứng dụng Bài tập 10. Các bạn có thêm câu hỏi nào cần được giải đáp thì hãy đăng lên diễn đàn học tiếng Trung online hoặc diễn đàn luyện thi HSK online nhé.